Huyết áp - Tim mạch - Tiểu đường

Tăng huyết áp thứ phát – Nguyên nhân và cách điều trị

Tăng huyết áp là một trong những bệnh có tốc độ gia tăng và gây tử vong nhiều nhất. Ước tính có tới 30% dân số bị tăng huyết áp và đa phần là không rõ nguyên nhân (gọi là tăng huyết áp vô căn, tăng huyết áp nguyên phát hay bệnh tăng huyết áp), những bệnh nhân (BN) này thường phải điều trị suốt đời. Tuy nhiên theo thông tin từ Hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA) có từ 5-10% số BN tăng huyết áp là thứ phát do bị mắc một bệnh nào đó, những BN này có cơ may rất lớn được chữa khỏi tăng huyết áp nếu như phát hiện ra và điều trị được bệnh gây ra tăng huyết áp, nhờ đó sẽ giảm được rất nhiều nguy cơ bị các biến chứng nặng như suy tim, suy thận, tai biến mạch máu não.

p113162 Tăng huyết áp thứ phát   Nguyên nhân và cách điều trị

Sau đây là một số nguyên nhân gây tăng huyết áp thứ phát thường gặp và cách điều trị.

Các bệnh thận

Bệnh thận do đái tháo đường (ĐTĐ): Mỗi quả thận chứa hàng triệu mạch máu nhỏ đóng vai trò như một máy lọc các chất thải ra nước tiểu. Đường máu cao có thể phá hủy hệ thống lọc này, gây xơ hóa cầu thận dẫn đến suy thận và kèm theo là tăng huyết áp. Điều trị tăng huyết áp bằng chế độ ăn, tập luyện, dùng thuốc hạ huyết áp và tất nhiên là kiểm soát tốt đường huyết. Trường hợp bị suy thận nặng thì sẽ phải lọc máu hoặc ghép thận. Đa số các BN này cần từ 2-3 loại thuốc mới kiểm soát được huyết áp. Theo các nghiên cứu, có hơn 10% BN đái tháo đường có biến chứng thận và như vậy thì Việt Nam hiện có khoảng hơn 100.000 BN tăng huyết áp do nguyên nhân bệnh thận ĐTĐ.

- Bệnh thận đa nang: Đây là bệnh di truyền trong đó BN có nhiều nang ở thận và có thể cả gan, các nang thận phá vỡ cấu trúc và chức năng bình thường của thận, gây tăng huyết áp. Điều trị cũng có thể bằng chế độ ăn, tập luyện và dùng thuốc, khi có suy thận nặng cần lọc máu hoặc ghép thận.

- Bệnh cầu thận: Quá trình lọc các chất thải và muối natri chủ yếu xảy ra ở cầu thận nên viêm cầu thận sẽ dẫn đến hỏng hệ thống vi lọc này. Nếu viêm cầu thận không được điều trị tốt thì người bệnh có thể bị tăng huyết áp, thường kèm theo hội chứng thận hư hoặc suy thận. Ở Việt Nam, nguyên nhân phổ biến gây viêm cầu thận là do vi khuẩn liên cầu.

- Thận ứ nước: Ở những BN này, một phần hoặc toàn bộ quả thận bị giãn căng do chứa đầy nước tiểu. Nguyên nhân thường do sỏi hoặc dị dạng đường tiết niệu gây tắc đường dẫn nước tiểu. Sự tắc nghẽn này đôi khi gây tăng huyết áp. Về điều trị, đa số các trường hợp cần được phẫu thuật loại bỏ nguyên nhân gây tắc hoặc dẫn lưu nước ở bể thận ra ngoài. Khi đã giải quyết được sự tắc nghẽn thì huyết áp sẽ trở về bình thường.

Bệnh nội tiết

- Hội chứng Cushing: Bệnh có đặc trưng là tình trạng cortisol trong máu cao kéo dài (do tuyến thượng thận tăng tiết hoặc do dùng thuốc corticoid) sẽ làm tăng huyết áp. Các triệu chứng ngoài tăng huyết áp là mặt béo tròn, bụng béo, chân tay teo, rạn da… Điều trị có thể là phẫu thuật loại bỏ u thượng thận, u tuyến yên hoặc dùng thuốc ức chế tổng hợp cortisol, hoặc ngừng dùng thuốc corticoid… Khi cortisol máu giảm về bình thường thì huyết áp cũng sẽ trở về bình thường.

- Hội chứng Conn hay u thượng thận tiết nhiều aldosteron: Aldosteron là hormon tuyến thượng thận có tác dụng gây giảm thải trừ muối và nước nhưng lại làm tăng thải kali qua thận. Hậu quả là BN bị tăng huyết áp do tăng khối lượng tuần hoàn, thường kèm theo có liệt hoặc yếu 2 chân do bị hạ kali máu. Điều trị có thể bằng dùng thuốc ức chế tác dụng của aldosteron, hoặc phẫu thuật cắt bỏ khối u thượng thận và/hoặc kiểm soát HA bằng chế độ ăn, tập luyện và dùng thuốc.

- U tủy thượng thận (Pheochromocytoma): Đây là 1 dạng u thượng thận hiếm gặp, trong đó phần tủy thượng thận tiết quá nhiều các hormon như adrenalin và noadrenalin dẫn đến huyết áp tăng rất cao (có thể lên tới trên 200mmHg) và từng cơn. Các triệu chứng đi kèm như nhịp tim nhanh, vã mồ hôi, đau ngực, đau đầu dữ dội… Điều trị cần phải phẫu thuật cắt bỏ u thượng thận.

- Bệnh to đầu chi: Nguyên nhân là do u tuyến yên có tăng tiết hormon tăng trưởng GH. Bệnh nhân có hình dáng rất đặc biệt như đầu ngón chân, ngón tay to, răng thưa và vẩu, trán dô, cao bất thường… Khoảng 1/3 số BN này có tăng huyết áp.

- Cường chức năng tuyến giáp (thường gọi là cường giáp): Trái ngược với suy giáp, trong bệnh cường giáp tuyến giáp sản xuất quá nhiều hormon. Thể bệnh cường giáp hay gặp nhất là bệnh Basedow với các triệu chứng như bướu cổ, mắt lồi, run tay chân, gầy sút… Hormon giáp sẽ làm tăng hoạt tính của epinephrin và norepinephrin dẫn tới làm tăng huyết áp. Điều trị cường giáp có thể bằng các thuốc kháng giáp trạng tổng hợp hoặc phẫu thuật hoặc Iode phóng xạ. Một khi BN đạt được bình giáp thì huyết áp sẽ giảm về bình thường.

- Cường chức năng tuyến cận giáp (cường cận giáp): Mỗi người có 4 tuyến cận giáp nằm ở phía sau tuyến giáp. Tuyến cận giáp có kích thước rất nhỏ nhưng có vai trò rất quan trọng trong việc điều hòa nồng độ calci và phospho trong cơ thể. Khi tuyến cận giáp tiết quá nhiều hormon PTH sẽ làm tăng calci máu, kích thích làm tăng huyết áp. Điều trị phẫu thuật loại bỏ u tuyến cận giáp sẽ làm huyết áp về bình thường.

Bệnh tim mạch

- Hẹp động mạch chủ: Khi động mạch chủ bị hẹp ở một đoạn nào đó (do bẩm sinh hoặc mắc phải) sẽ khiến tim phải co bóp mạnh hơn để tống máu đi qua được chỗ hẹp. Bằng cách này, máu sẽ đi đến được các cơ quan ở phía dưới chỗ hẹp nhưng lại làm tăng HA ở phía trên chỗ hẹp, trong đó có HA ở động mạch cánh tay. Điều trị có thể là phẫu thuật sửa chữa hoặc nong rộng chỗ hẹp, nếu thành công sẽ đưa được HA về bình thường.

- Hẹp động mạch thận: Hẹp động mạch thận 1 hoặc 2 bên thường gây ra tăng HA nặng và kèm theo là tổn thương cấu trúc thận không hồi phục. Có 2 nguyên nhân chính là do mảng xơ vữa động mạch (giống như xơ vữa gây hẹp động mạch vành nuôi tim) hoặc do xơ hóa làm thành động mạch thận dày lên gây hẹp (gọi là loạn sản xơ cơ). Chẩn đoán bằng chụp động mạch thận. Nếu hẹp nhẹ, chức năng thận bình thường thì có thể điều trị tăng HA bằng chế độ ăn, tập luyện và dùng thuốc. Còn trong trường hợp hẹp nhiều thì có thể tiến hành điều trị bằng 1 trong 3 phương pháp giống như điều trị hẹp động mạch vành: Hoặc nong chỗ hẹp bằng bóng, hoặc đặt stent để giữ cho chỗ đó luôn được mở, hoặc phẫu thuật bắc cầu nối đi qua chỗ hẹp. Một khi dòng máu tới thận được đầy đủ, dễ dàng thì HA sẽ giảm về bình thường.

Các nguyên nhân khác

- Ngừng thở lúc ngủ: Đây là bệnh không hiếm gặp nhưng hay bị bỏ qua. Những người bị bệnh này sẽ có các cơn ngừng thở trong lúc ngủ gây thiếu ôxy từng đợt. Hậu quả là các tế bào ở thành mạch máu bị tổn thương làm giảm (hoặc mất) tính đàn hồi vốn có tác dụng điều hòa HA, dẫn đến HA tăng lên. Bệnh hay gặp ở những người béo, người có bệnh về mũi xoang, triệu chứng hay gặp là ngáy to. Điều trị gồm giảm cân, phẫu thuật mũi họng, sử dụng các dụng cụ trợ giúp hô hấp… để điều hòa HA và phòng ngừa bị đột tử.

- Béo phì hoặc thừa cân: Những người béo sẽ có lượng máu lưu thông trong cơ thể cao hơn, khiến áp lực tác động lên thành động mạch tăng lên. Đi kèm với béo thường là tăng nhịp tim và giảm khả năng vận chuyển máu của hệ thống mạch máu trong cơ thể… tất cả các yếu tố này đều làm tăng HA. Một nguyên nhân khác nữa là béo phì hoặc thừa cân thường phối hợp với bệnh đái tháo đường hoặc kháng insulin cũng gây tăng HA. Biện pháp điều trị đầu tiên và quan trọng nhất chính là giảm cân.

- Tiền sản giật: Tiền sản giật là một biến chứng sản khoa, đặc trưng là có protein trong nước tiểu và tăng HA xuất hiện sau tuần thứ 20 của thai kỳ. Nếu không được điều trị, tiền sản giật có thể gây ra biến chứng nguy hiểm đe dọa tính mạng của cả mẹ và con. Để điều trị có thể dùng các thuốc hạ HA như dopegyt, hydralazin… nhưng chỉ sau khi đẻ thì HA mới có thể trở về bình thường được.

- Do thuốc: Theo các nghiên cứu, rất nhiều loại thuốc chữa bệnh lại có thể là nguyên nhân gây ra tăng HA. Các thuốc chống trầm cảm có thể gây tăng HA hoặc làm HA tăng cao hơn. Các thuốc tránh thai dạng uống, thuốc chữa cảm cúm và nhiều loại thuốc thảo dược khác cũng có thể gây tăng HA, trong đó đáng chú ý có cam thảo và nhân sâm. Các chất gây nghiện và bị cấm dùng như cocain hoặc methamphetamin cũng đều làm tăng HA.

Điều trị tăng huyết áp thứ phát

- Các biện pháp thay đổi lối sống như chế độ ăn uống lành mạnh, tăng cường tập thể dục thể thao, giảm cân… đóng vai trò quan trọng trong điều trị tăng HA thứ phát.

- Phương pháp điều trị quan trọng nhất là phải phát hiện và loại bỏ nguyên nhân gây tăng HA, chỉ khi đó mới có thể làm giảm HA một cách bền vững và thậm chí đưa được HA về bình thường.

- Trong hầu hết các trường hợp, trước khi điều trị nguyên nhân hoặc trong thời gian chuẩn bị điều trị nguyên nhân thì việc dùng các thuốc hạ HA là hết sức cần thiết, nhất là trường hợp HA rất cao như u tủy thượng thận, tiền sản giật…

- Nhìn chung điều trị BN tăng HA thứ phát thường sau một thời gian mới có hiệu quả. Nhiều trường hợp điều trị khá phức tạp. Một số BN do tăng HA kéo dài và không được kiểm soát tốt HA nên đã có biến chứng thận, tim… vì thế HA có thể vẫn cao sau khi đã điều trị loại bỏ nguyên nhân.

ThS. Nguyễn Quang Bảy
Sức khỏe & Đời sống

http://huyetap.net/wp-content/uploads/2011/02/cao-huyet-ap3.jpg

Máy đo huyết áp Omron


HEM 7211 300x213 Tăng huyết áp thứ phát   Nguyên nhân và cách điều trị

Máy đo huyết áp Omron

Máy đo huyết áp bắp tay Omron là sản phẩm lý tưởng cho mọi gia đình nhờ tính năng ưu việt, công nghệ hiện đại và kết quả đo có độ chính xác cao. Khi sử dụng sản phẩm của Omron, bạn sẽ luôn cảm thấy thoải mái nhờ sự tiện dụng và yên tâm tuyệt đối về kết quả đo. Hãy đo huyết áp hàng ngày để bảo vệ sức khỏe gia đình bạn.
Máy đo huyết áp Omron - Thương hiệu số 1 thế giới chunhay xemchitiet Tăng huyết áp thứ phát   Nguyên nhân và cách điều trị
X