Danh mục
Danh mục
Huyết áp - Tim mạch - Tiểu đường

Kiểm soát huyết áp ở bệnh nhân đặc biệt.

Tăng huyết áp (THA) là một trong những bệnh yêu cầu điều trị lâu dài, liên tục, nếu có những thay đổi đột ngột trong quá trình điều trị hay không tuân thủ theo sự hướng dẫn của bác sĩ sẽ dẫn đến những biến chứng nặng nề. Những người THA kèm theo một số bệnh như suy thận, tim mạch,… cần phải cẩn trọng hơn và đặc biệt chú ý khi dùng thuốc để mang lại hiệu quả tốt nhất.

Kiểm soát huyết áp ở bệnh nhân đặc biệt. 1

Điều trị THA mục đích chủ yếu là giảm tối đa nguy cơ dài hạn bị các biến chứng tim mạch và tử vong. Để làm được điều này, trước tiên cần phải điều trị tất cả những nguy cơ ảnh hưởng đến bệnh như hút thuốc lá, đái tháo đường, lipid máu,…

Bệnh nhân đang điều trị THA mà tự ý ngừng điều trị, không theo sự hướng dẫn của bác sĩ thì rất dễ bị tái phát huyết áp ở mức như ban đầu hay có thể sẽ cao hơn ban đầu. Nên hạ huyết áp một cách tích cực, cả huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương, ít nhất là dưới 140/90mmHg và hạ thấp hơn nữa nếu dung nạp được. Hạ huyết áp dưới 130/80 mmHg trên người đái tháo đường. Dưới 125/70mmHg nếu bệnh nhân suy thận có lượng protein niệu trên 1 gam trong 24 giờ.

Những trường hợp đặc biệt cần chú ý huyết áp

Người cao tuổi

Người cao tuổi các cơ quan chức năng suy giảm, nên việc lựa chọn thuốc cần phải phù hợp với tình trạng. Đối với người già cần phải đo huyết áp ở cả tư thể đứng và tư thế ngồi, để có thể kiểm soát được tác dụng phụ của thuốc gây ra khi đứng.

Từ trước đến nay mọi người đều cho rằng THA  theo tuổi là điều không tránh được và vô hại, đây là một quan niệm không đúng. Bệnh nhân cao tuổi cũng dùng những thuốc chống THA như ở bệnh nhân còn trẻ. Tuy nhiên, nên bắt đầu điều trị với liều thấp hơn vì những bệnh nhân cao tuổi thì nguy cơ bị bệnh mạch vành và đột ngột cao hơn.

Chú ý: Đối với người trên 80 tuổi, nếu THA nhẹ không cần dùng thuốc ngay, chỉ cần điều chỉnh chế độ ăn uống, sinh hoạt hàng ngày. Khi huyết áp tâm thu trên 160mmHg hay huyết áp tâm trương trên 90mmHg thì phải dùng thuốc để hạ huyết áp. Tuy nhiên, nên điều trị kể cả khi bệnh nhân có mức huyết áp thấp hơn nếu có các biến chứng tim mạch hoặc có tổn thương cơ quan đích, mắc bệnh đái tháo đường.

Phì đại thất trái

Theo thống kê thì có khoảng 1/3 số bệnh nhân THA có phì đại thất trái. Đây là một trong những biểu hiện thường gặp nhất của tổn thương cơ quan đích trong THA và làm tăng tỷ lệ suy tim, nhồi máu cơ tim và đột quỵ lên 6 lần. Chẩn đoán phì đại thất trái dựa vào điện tâm đồ hay siêu âm tim (bình thường chỉ số khối cơ thất trái dưới 130g/m2 ở nam giới, dưới 110g/m2 ở nữ giới).

Đái tháo đường

71% bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 có kèm theo tăng huyết áp. Đái tháo đường kèm theo THA làm gia tăng nguy cơ đột quỵ, bệnh mạch vành tim, suy tim,… tăng tỷ lệ tử vong. Nên thường xuyên dùng một thuốc ức chế men chuyển hay một thuốc đối kháng angiotensin II.

Bệnh lý mạch máu não kèm theo

Có nhiều bằng chứng cho thấy lợi ích của điều trị thuốc hạ áp trên bệnh nhân đã bị tai biến mạch não hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua. Tuy nhiên, thầy thuốc sẽ quyết định hạ huyết áp đến mức nào và hạ xuống như thế nào.

Bệnh mạch vành và suy tim kèm theo

25% nguy cơ phát sinh bệnh mạch vành là do THA. THA có phì đại thất trái làm tăng nguy cơ suy tim lên từ 4-6 lần. Suy tim có thể xảy ra do rối loạn chức năng tâm trương (giảm khả năng giãn ra của thất trái) hoặc rối loạn chức năng tâm thu (giảm khả năng co bóp của thất trái). Kiểm soát tốt huyết áp với các biện pháp dùng thuốc hoặc thay đổi lối sống có thể làm giảm khối cơ thất trái.

Điều trị hạ huyết áp và đặc biệt là bằng thuốc ức chế men chuyển (hay thuốc ức chế thụ thể angiotensin II khi thuốc ức chế men chuyển có tác dụng phụ) làm giảm nguy cơ tái phát bệnh động mạch vành, phòng ngừa suy tim ứ huyết và kéo dài tuổi thọ của các bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim cấp có suy tim.

Bệnh nhân có suy thận

Bệnh nhân bị THA vô căn rất hay gặp có tổn thương thận phối hợp. Bảo vệ thận ở bệnh nhân đái tháo đường bằng cách kiểm soát chặt chẽ huyết áp (dưới 130/80 mmHg và thấp hơn nếu đạm niệu trên 1g/ngày), giảm đạm niệu bằng thuốc ức chế men chuyển hoặc thuốc ức chế thụ thể angiotensin II nếu không có chống chỉ định. Để đạt huyết áp mục tiêu thường cần điều trị phối hợp thêm thuốc lợi tiểu và thuốc đối kháng kênh canxi.

Người có thai

 THA ở người có thai làm tăng nguy cơ tử vong của cả mẹ, thai nhi và trẻ nhũ nhi. Về mặt sinh lý, huyết áp bình thường sẽ hạ xuống khoảng 15mmHg vào 3 tháng giữa của thai kỳ. Vào 3 tháng cuối, huyết áp sẽ trở về như mức bình thường như trước khi có thai hay thậm chí cao hơn. Việc dùng thuốc trong THA thai kỳ phải hết sức thận trọng. Không nên ăn hạn chế muối, không ăn chế độ giảm cân vì sẽ làm giảm tăng trưởng của thai nhi. Nuôi con bằng sữa mẹ không làm THA. Tuy nhiên, hầu hết các thuốc hạ huyết áp tùy mức độ sẽ được bài tiết qua sữa mẹ, cho nên cần chú ý không cho con bú khi mẹ phải dùng các thuốc có thể gây độc cho nhũ nhi.

GỬI Ý KIẾN CỦA BẠN