Danh mục
Danh mục
Bệnh hô hấp

Đã có thể kiểm soát được bệnh hen phế quản.

Các số liệu thống kê cho thấy, trong mấy thập kỷ qua, bệnh hen phế quản (HPQ) tiếp tục gia tăng với một tốc độ đáng lo ngại, cứ sau khoảng 10 năm, tỷ lệ lưu hành bệnh lại tăng lên 20-25%, có nơi tăng tới 50%. Dự báo đến hết năm 2025, toàn thế giới có đến 400 triệu người bị hen(con số hiện thời là 100 triệu người). Tỷ lệ tử vong do HPQ cũng tăng rất nhanh, cứ 250 trường hợp tử vong, có một người tử vong vì bệnh hen.

Đã có thể kiểm soát được bệnh hen phế quản. 1

Biểu hiện lâm sàng

Theo chương trình khởi động toàn cầu phòng chống hen phế quản (Global Initiative for Asthma: GINA, WHO – 1995), HPQ là một bệnh viêm mạn tính đường thở chứ không đơn thuần do co thắt phế quản.

Bệnh biểu hiện bằng những cơn khó thở đặc biệt do lòng phế quản hẹp đi đột ngột bởi các chất nhầy, gây tình trạng khó thở từng cơn, khó thở chậm và khó thở ra. Cơn khó thở thường xảy ra về ban đêm (thường vào cuối đêm về sáng), sau vài triệu chứng báo hiệu như hắt hơi, sổ mũi, ho khan vài tiếng, có người thấy nặng ngực. Thường thì cơn xuất hiện đột ngột và giữ dội ngay. Người bệnh đang nằm phải ngồi dậy để thở, có khi phải vin tay vào thành giường, thành ghế để thở. Người bệnh thở rất khó nhọc, thở ra chậm (từ 8 đến 16 lần trong 1 phút) và kéo dài, nhưng hít vào nhanh và dễ gây nên những tiếng khò khè, cò cử mà ở xa cũng có thể nhận ra được. Tình trạng khó thở mỗi lúc một tăng, nom rất mệt nhọc. Người bệnh vã mồ hôi, há miệng để thở. Cứ như thế cho đến khi ho, khạc ra được ít đờm, dãi trong dính thì cơn hết, người bệnh thở được dễ hơn, rồi ngủ yên. Mỗi cơn như thế kéo dài chừng nửa giờ đến vài giờ. Tuy khó thở nhưng người bệnh vẫn tỉnh táo. Những trường hợp nặng hoặc bệnh đã lâu ngày thì cơn dài hơn, nhiều cơn hơn, có khi cơn hen xảy ra liên tiếp trong vài ngày hoặc lâu hơn nữa.

Ở trẻ nhỏ, con hen có phần khác hơn. Trẻ khó thở cánh mũi phập phồng, co kéo các cơ liên sườn, lõm trên và dưới xương ức, môi tím tái, vẻ mặt sợ hãi tưởng như ngạt thở. Cơn kéo dài vài giờ rồi dễ chịu. Trẻ dưới 1 tuổi cũng khó thở, nhưng không phải là khó thở chậm, khó thở ra mà lại khó thở cả hai thì, thở nhanh. Trẻ sốt 38,5-390C ho rũ rượi từng cơn và tím tái. Hiện tượng khó thở không kéo dài, có những đợt dễ thở; thường trẻ vẫn tỉnh táo, không bỏ bú, tăng trưởng bình thường.

Cơn hen thường xuất hiện hoặc nặng thêm mỗi khi người bệnh phải gắng sức tiếp xúc với dị nguyên hoặc các yếu tố kích thích, hay bị nhiễm vi khuẩn, vi rút gây bệnh đường hô hấp. Hậu quả là sức khoẻ của người bệnh ngày càng giảm sút, người bệnh trong tâm trạng bi quan, lo lắng; kết quả học tập lao động, chất lượng cuộc sống sa sút.

Về nguyên nhân: Hiện nay người ta nói nhiều đến nguyên nhân dị ứng (chiếm tới 50-70% các trường hợp). Dị nguyên rất đa dạng, từ bụi nhà, bụi rơm rạ, bụi lúa, bụi lông thú, bụi len, phấn hoa, gián, cá , tôm , cua đến thuốc, hoá chất, vi klhuẩn, nấm mốc, khói (thuốc lá, thuốc lào, bếp than, bếp củi)… Ở nước ta khi thời tiết thay đổi từ nóng sang lạnh (chẳng hạn khi có gió mùa đông bắc) hay ngược lại dễ làm cho cơn hen tái phát.

Sau dị ứng phải nói đến yếu tố nhiễm khuẩn (bao gồm các nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, viêm phế quản, viêm phổi); vai trò của nội tiết tố, thần kinh, tâm lý, nhịp sống khẩn trương, streess… và cả vai trò của các gen gây bệnh.

Tuy có sự phối hợp nhiều tác nhân gây bệnh khác nhau, và việc xác định nguyên nhân gây bệnh cũng không mấy dễ dàng nên chưa có phương pháp nào chữa khỏi bệnh song lại là bệnh kiểm soát được.

Người bệnh có thể tự theo dõi sức khoẻ hàng ngày (có nhật ký ghi tỉ mỉ cơn ho, khò khè, khó thở ban ngày, đo lưu lượng đỉnh hàng ngày, mỗi ngày đo hai lần vào buổi sáng và buổi chiều, cách nhau 12 giờ.). Một khi thấy ho nhiều nhất về đêm gần sáng, khò khè nặng ngực, khó thở tái đi tái lại nhiều lần, lưu lượng đỉnh giảm hơn 15% sau 6 phút đi bộ hay gắng sức hoặc thay đổi giữa hai lần đo : giảm 20% với người có dùng thuốc giãn phế quản, giảm trên 10% ở người không dùng thuốc giãn phế quản cần nghĩ đến bệnh HPQ. Nhờ đó có thể tự xử lý khi cơn hen vừa xuất hiện.

Khi cơn xảy ra bột phát từ 2 lần/1tuần trở lên, hay có cơn về đêm và kéo dài cả ngày khi đó người bệnh phải vào viện điều trị.

Trong điều trị, người bệnh phải dùng thuốc lâu dài để cắt cơn hen (chống viêm và làm giãn phế quản).

– Định kỳ đo chức năng hô hấp, tốt nhất là đo lưu lượng đỉnh hàng ngày để đánh giá kết quả điều trị hen và phát hiện sớm những cơn hen nặng.

– Nằm buồng thoáng khí, sạch, cách ly với dị nguyên hoặc những tác nhân nghi ngờ.

– Thở ôxy để đỡ khó thở, rút ngắn tiến triển, đề phòng biến chứng phổi nhất là với các cháu nhỏ.

– Ăn nhẹ, chủ yếu là sữa, cháo loãng, nước quả tươi; cho uống nhiều nước để giữ cân bằng nước và các chất điện giải để đờm dãi không bị đặc, bệnh nhân ho khạc dễ dàng.

– Phát hiện và giải quyết triệt để các ổ viêm nhiễm mũi – họng, răng miệng… và nguyên nhân nội tiết (nếu biết chắc chắn).

Để ngăn ngừa xảy ra cơn hen, hàng ngày người bệnh phải:

– Dùng thuốc chống viêm corticoid dạng khí dung (xịt) seretide (trong bình thuốc có cả thuốc chống viêm corticoid và thuốc làm giãn phế quản).

– Thường xuyên được bác sỹ tư vấn về cách tự theo dõi và được hướng dẫn cách kiểm soát bệnh hen ( nhất là các trường hợp hen nặng, có thai, cơ địa dị ứng), cách đánh giá kết quả xử lý kết quả tại nhà và tại cộng đồng.

– Chỉ khi trong 4 tuần lễ vừa qua, người bệnh không bị thức giấc hay phải dậy sớm vì khò khè, ho, khó thở, tức hay đau ngực; không phải dùng thuốc cắt cơn.(salbutaml); không phải nghỉ việc vì bệnh; tự mình đánh giá được việc kiểm soát bệnh hen mới được coi là bệnh đã được kiểm soát hoàn toàn.

Để đề phòng hen phế quản, trước hết cần làm tốt công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ để mọi người nhận rõ nguy cơ và hậu quả nhiều mặt của bệnh, nhận rõ nguyên nhân gây HPQ là sự ô nhiễm môi trường, sử dụng thuốc và hoá chất bừa bãi, nhịp sống khẩn trương, nhiều streess, khí hậu nóng ẩm.

– Cần hết sức tránh tiếp xúc với dị nguyên, không dùng những thứ nghi nghờ là thủ phạm. Kiêng ăn các thức ăn dễ gây dị ứng như tôm, cua… Khi bắt buộc phải tiêm vacxin, huyết thanh theo chỉ định dịch tễ, phải thực hiện đúng nguyên tắc chuyên môn đề phòng tai biến. Nếu có điều kiện nên thay đổi môi trường (nơi ở, nơi làm việc) cho hợp với tình trạng sức khoẻ.

Theo “Thầy thuốc Việt nam” – BS Bạch Thông.

GỬI Ý KIẾN CỦA BẠN